MEN TIÊU HOÁ, VAI TRÒ ENZYME TIÊU HOÁ

Men tiêu hóa – Vai Trò Enzyme Tiêu Hóa Trong Chăn Nuôi

Enzyme hay còn gọi là men là chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein. Mục tiêu cuối cùng của enzyme là phân giải các phân tử thành những phân tử nhỏ hơn để dễ dàng hấp thu trong quá trình tiêu hóa. Enzyme bổ sung trong thức ăn thương mại thường được lên men từ một dòng vi khuẩn hay nấm, sau đó được trích ly để tạo ra một sản phẩm lên men có chứa enzyme đơn. Mỗi loại enzyme đơn sẽ có nhiệm vụ xúc tác một loại phản ứng nhất định.

Đối với chất xơ

Việc sử dụng các Enzyme Tiêu hóa trong khẩu phần ăn của vật nuôi có tác dụng trên chất xơ – NSP (NSP: Non – Starch polysaccharids, có nghĩa là các polysaccharid không phải là tinh bột), giúp vật nuôi tiêu hóa tốt hơn thức ăn có chứa nhiều NSP; vừa hạn chế các tác hại của bản thân những NSP gây ra, vừa giải phóng được một phần năng lượng, protein và các acid amin dư thừa. Enzyme Tiêu hóa tạo điều kiện phóng thích các acid amin, cải thiện khả năng tiêu hóa các loại acid amin từ 1,7 – 7,9 % (mức cải thiện cao nhất của methionine là 7,9%), giúp tiết kiệm được các acid amin phải bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc, giảm giá thành sản xuất.

Việc sử dụng men tiêu hóa giúp bổ xung các Enzyme tiêu hóa nâng cao hiệu suất của chăn nuôi và điều này có được là do:

Sự cải thiện môi trường đường ruột vật nuôi.

Sự cải thiện khả năng tiêu hoá và đặc tính chất độn chuồng.

Tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có, kinh tế hơn.

Các yếu tố khác nhau này là do các biểu hiện khác nhau về hoạt động căn bản của Enzyme Tiêu hóa trong thức ăn. Các hoạt động bao gồm sự giảm độ nhờn trong dưỡng chất ở ruột, giải phóng năng lượng dư thừa từ các thành phần thức ăn khó tiêu hóa như các NSP, giải phóng các dưỡng chất kết dính bên trong vách tế bào… làm tăng giá trị hữu dụng của dưỡng chất. Các yếu tố kháng dinh dưỡng cũng có thể được phân giải.

Đối với hệ vi sinh vật đường ruột, Enzyme Tiêu hóa có tác dụng làm gia tăng khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột non, do vậy làm giảm quá trình lên men vi sinh ở ruột già, duy trì quá trình thẩm thấu khi heo con tiêu chảy. Ngoài ra Men Tiêu hóa bổ sung còn cho thấy có tác dụng làm giảm sự phân đàn trọng lượng giữa các vật nuôi. Enzyme Tiêu hóa cho phép thay thế ngũ cốc chín bằng ngũ cốc sống mà không làm ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi, làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng ở bề mặt ruột nhờ vào sự giảm chất nhầy và khả năng giữ nước trong đường tiêu hóa. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến lượng ăn vào cũng như sự tăng nhanh vi khuẩn có ích cho đường ruột.

 

Đối với chất Phytate

Ngày nay, men tiêu hóa được sử dụng như là chất bổ sung quan trọng trong thức ăn gia súc. Các enzyme phân hủy NSP (như Endo-Xylanase và betaglucanase-glucanase) và phân hủy Phytate (như Phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch đen… được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ giải quyết vấn đề về môi trường, mà vì nó gia tăng hiệu quả kinh tế cao.

Trong tự nhiên, khoảng 60 – 75% phospho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng Phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với vật nuôi. Giá trị sinh học của phospho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15% ở bắp cho tới khoảng 50% ở lúa mì. Trong khẩu phần bắp – dầu đậu nành có hai phần ba lượng phospho bị liên kết dưới dạng Acid phytic. Vật nuôi không thể tiêu hóa lượng phospho này. Lượng phospho bị thải ra sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung men tiêu hóa Bioge vào khẩu phần, enzyme này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phospho làm cho vật nuôi tiêu hóa dễ dàng. Do đó lượng phospho vô cơ phải bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lượng phospho thải ra có thể giảm 30 – 50%.
Hiệu quả của việc bổ sung Phytase thay đổi theo từng loại vật nuôi, trọng lượng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn Phytase, lượng Phytase bổ sung và tình trạng sinh lý của vật nuôi. Không có mức chuẩn cho việc bổ sung Phytase cho tất cả các loại khẩu phần bởi vì mức phospho tổng số và phospho phytate của các loại khẩu phần thay đổi. Enzyme Phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phospho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các acid amin khác.

vai trò của men tiêu hóa

Đối với môi trường

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nỗ lực tìm cách làm giảm ô nhiễm từ các chất thải trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được rằng cần cải thiện khả năng sử dụng các dưỡng chất trong khẩu phần của vật nuôi để hạn chế tối đa lượng phân thải ra. Trước đây, do ít quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dưỡng nhằm tối đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lượng chất dinh dưỡng thải ra quá nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phospho và canxi). Một trong những lợi ích mà Enzyme Tiêu hóa mang lại là hàm lượng dinh dưỡng trong phân giảm đáng kể. Sự giảm lượng dinh dưỡng bài tiết qua phân nhờ bổ sung men tiêu hóa trong khẩu phần đặc biệt quan trọng vì phân thải vào đất và nước làm ô nhiễm môi trường.

Tác động thực sự của Enzyme Tiêu hóa trên vật nuôi là làm giảm lượng phân thải ra và độ ẩm của phân do sự phá vỡ cân bằng nước trong đường ruột. Việc bổ sung enzyme Xylanase có hiệu quả làm giảm độ nhờn đường tiêu hóa và những rối loạn tiêu hóa kèm theo nó, điều này làm gia tăng độ khô của phân và cải thiện lượng phân thải ra.

Tương tự như vậy, ta có thể ước lượng khả năng ô nhiễm môi trường tiềm tàng của các thành phần khác trong khẩu phần, ví dụ như nitơ và phospho.

Ở các khẩu phần có bổ sung Enzyme Tiêu hóa thì lượng nitơ thải ra giảm một cách đáng kể và lượng nitơ tích lũy tăng 5 – 15%. Khi bổ sung Enzyme Tiêu hóa phù hợp vào thức ăn có thể giảm lượng nitơ thải ra trên một con heo từ 10 – 15%, tương đương với 200g. Như vậy, một con heo nuôi từ lúc sinh ra đến lúc giết thịt 100kg thì lượng vật chất khô thải ra trong phân sẽ ít hơn 5kg hoặc lượng phân ít hơn 15 – 20kg/heo. Enzyme Tiêu hóa đã có vai trò trong việc cải thiện khả năng sử dụng thức ăn nên giảm được lượng chất thải. Khi tăng khả năng tiêu hóa từ 85% lên 90% thì lượng vật chất khô trong phân giảm 33%.

Ngũ cốc chứa phần lớn phospho bị liên kết dưới dạng Phytate rất khó tiêu và thường bị thải ra ngoài. Để thoả mãn nhu cầu phospho của động vật cần thiết phải bổ sung phospho vô cơ như: Dicalcium (DCP) hoặc Monocalcium phosphate (MCP), tiêu hoá không hết bài tiết 30 – 50% phospho vào trong phân thải làm ô nhiễm môi trường. Phân giải Phytate đồng nghĩa với việc bổ sung ít phospho vào khẩu phần ăn để lượng phospho thải ra ít hơn. Điều này thực hiện bằng enzyme Phytase. Bổ sung enzyme Phytase vào khẩu phần sẽ giải phóng một số mạch liên kết phospho, giúp vật nuôi tiêu hoá dễ dàng.

Ngày nay, ở Việt Nam đang xây dựng các trang trại chăn nuôi tập trung, sẽ làm gia tăng lượng phân, nước thải ra trên đơn vị diện tích hẹp làm cho nước mặt và mạch nước ngầm bị ô nhiễm, tích tụ khoáng trong đất… Thực tế cho thấy, việc bổ sung Enzyme Tiêu hóa vào khẩu phần ăn tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện các hạn chế nói trên, giúp bảo vệ môi trường.

Để kích thích sự tăng trưởng của vật nuôi đem lại năng suất cao hơn trong chăn nuôi, người chăn nuôi thường tìm đến những giải pháp bổ sung các vi sinh vật có lợi hoặc bổ sung enzyme tiêu hóa cho vật nuôi.

Nguồn bioge.vn

One thought on “MEN TIÊU HOÁ, VAI TRÒ ENZYME TIÊU HOÁ

  1. Pingback: HƯỚNG DẪN CÁCH TIẾT KIỆM CHI PHÍ CHĂN NUÔI GÀ LÔNG MÀU, CHĂN NUÔI BÒ VỖ BÉO, CHĂN NUÔI DÊ VỖ BÉO- PHẦN 3 - Thư Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Dịch ngôn ngữ