Bệnh thường gặp trên chim câu

1- Bệnh đường hô hấp: Bệnh về đường hô hấp ở chim câu thường ở 2 thể.

Thể cấp tính thường gặp ở chim non, thường có triệu chứng điển hình như chảy nước mắt, nước mũi, khó thở, miệng và mũi chim bị viêm có dịch nhầy màu trắng hoặc màu vàng. Chim có thể chết sau 7-10 ngày.

Thể mãn tính thường gặp chim trưởng thành với biểu hiện thường nhẹ hơn.

Phòng và điều trị bệnh: Bệnh thường phòng bằng làm Vaccin 

Bệnh viêm đường hô hấp màn (Mycoplasmosis)

Ở nhiều cơ sở nuôi chim bồ câu thịt và bồ câu cảnh thuộc các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan…người ta đã phát hiện bệnh viêm đường hô hấp man do Mycoplasma gây ra. Tuy nhiên, bệnh không lưu hành rộng như bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà nuôi theo phương thức công nghiệp.

Nguyên nhân gây bệnh

Đến nay, ngươi ta đã phân lập, đặt tên được 19 chủng thuộc Mycoplasma gây bệnh cho các loài gia cầm như: Gà, gà tây, ngỗng, vịt và bồ câu. Trong số đó có 3 chủng gây bệnh được phân lập từ bồ câu là: Mycoplasma columbinasale; M. columbinum và M. columborale.

Trong đó, Mycoplasma là vi sinh vật có kích thước nhỏ trung gian giữa vi khuẩn và virus, khoảng 0,2 – 0,5 mm; bắt màu hồng khi nhuộm Giemsa; có thể nuôi cấy trên một số môi trường đặc biệt và khuẩn lạc mọc chậm sau 10 – 15 ngày. Mycoplasma cũng mới cấy được trên màng của phôi trứng gà.

Bệnh lý và lâm sàng

Mycoplasma có thể xâm nhập vào cơ thể chim qua niêm mạc đường hô hấp như niêm mạc mũi và phế quản khí hít thở không khí có mầm bệnh. Từ niêm mạc, Mycoplasma tiến đến các hạch lâm ba đường hô hấp như hạch hầu, hạch phổi, phát triển ở đó rồi vào các phếnang. Đối với những con chim khoẻ, được nuôi dưỡng tốt, trong các điều kiện sinh thái thích hợp thì mầm bệnh không gây tác hại rõ rệt, chỉ tồn tại trong trạng thái mang trùng của chim. Khi các điều kiện sinh thái thay đổi, có các yếu tố stress làm giảm sức đề kháng của chim thì Mycoplasma bắt đầu gây ra các biến đổi bệnh lý ở đường hô hấp của chim.

Chim bị bệnh sẽ có các dấu hiệu đầu tiên như chảy nước mũi, nước mắt, ăn kém. Sau đó, xuất hiện tình trạng thỏ khó, thở nhanh… Hiện tượng này tăng dần và chim gầy dần, giảm tăng trọng rõ rệt. Các trường hợp cấp tính chim sẽ chết sau 10 – 15 ngày và thường thấy ở chim non từ 1 – 4 tháng tuổi. Ở chim bị bệnh mãn tính, thời gian hành bệnh kéo dài hàng tháng với các triệu chứng thở khó, gầy rạc. Các trường hợp bị nhiễm khuẩn đường hô hấp thứ phát do các liên cầu (Streptococcus) tụ cầu (Staphilococcus) và Heamophilus spp chim bị viêm phế quản phổi nặng và chết nhanh sau 10 – 12 ngày.

Khi mổ khám chim bị bệnh thì người nuôi sẽ thấy bệnh tính tập trung ở đường hô hấp, phổi tụ máu, có dịch nhày trong các phế quản và phê nang; hạch phôi sưng thủng, có tụ huyết rõ rệt.

Theo dịch tễ học

Bệnh thường thấy à bồ câu trong điều kiện chăn nuôi nhốt và tập trung. Không khí nóng ẩm hoặc lạnh ẩm cũng sẽ làm giảm sức đề kháng của chim.

Bồ câu nội rất ít bị bệnh viêm đường hô hấp mãn tính mà bệnh thường xảy ra ở các giống bồ câu thịt, bồ câu cảnh nhập nội, chưa thích nghi với các điều kiện sống mới. Bệnh thường thấy ở bồ câu non từ 1 – 6 tháng. Bồ câu trưởng thành có sức đề kháng với bệnh.

Chẩn đoán

+ Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ theo các dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích thể hiện ở bộ máy hô hấp như thở khó, gầy yếu và suy nhược dần để chẩn đoán.

+ Chẩn đoán ví sinh vật và huyết thanh: Phân lập mầm bệnh từ bệnh phẩm qua các môi trường nuôi cấy; làm các phản ứng huyết thanh học như ngưng kết trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định bệnh.

Phương pháp điều trị

Hiện nay, có nhiều loại kháng sinh có thể dùng để điều trị bệnh Mycoplasmosis ở gia cầm và chim trời như:Streptomycin, erytromycin, chlormphenicol, kagnamycin, tylosin, spectinomycin. Nhưng hai loại kháng sinh sau đây được điều trị rộng rãi và cho hiệu quả cao là:

Tylosin: Dùng liều 10mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt hoặc dùng liều 1g pha trong 11 nước cho uống liên tục từ 3 – 5 ngày.

Tiamulin: Dùng liều 15mg/kg thể trọng, tiêm bắp thịt hoặc dùng liều 2g pha trong 11 nước cho uống liên tục từ 3 – 5 ngày.

Bên rạnh đó, cần cho chim bệnh uống hoặc trộn thức án các loại vitamin B1, C, A, D, E để tăng sức đề kháng.

Hộ lý: Cần giữ khu chuồng nuôi bồ câu khô sạch, thoáng mát mùa hè và ấm áp trong mùa đông và cho ăn đúng khẩu phần quy định.

Các biện pháp phòng bệnh

+ Phòng nhiễm bằng hoá dược: Ở nơi có bệnh đang diễn ra thì nên sử dụng hai loại kháng sinh trên hoặc oxytetracylin pha với nước 2g/l nước cho chim uống mỗi tháng một lần; một lần 2 ngày.

+ Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi.

+ Nuôi dưỡng chim với khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng các vitamin và muôi khoáng.

Bệnh giun: Chim được tẩy giun định kỳ 2 lần trên/năm

2- Bệnh giun tóc ở chim bồ câu

1. Nguyên nhân

Giun tóc Capillaria obsignata (Madsen 1943)

Vật chủ: Bồ câu, gà, gà tây, ngỗng, gà sao, cút.

Đặc điểm sinh học

– Vị trí ký sinh: Ruột non, mạch tràng.

– Hình thái: Giun đực có kích thước dài 7-13x49mm; rộng 49-53 micromet. Gai giao hợp dài 1,1-1,5 micromet. Giun cái: dài 10-18mm; rộng 80 micromet. Trứng: 44-46×22-29 micromet. Giun có hai phần: phần đầu nhỏ dài khoảng 1/3 cơ thể chui vào niêm mạc của ruột; phần thân còn lại ở ruột của vật chủ.

– Vòng đời: Giun phát triển trực tiếp, không có vật chủ trung gian. ấu trùng phát triển trong trứng khoảng 13 ngày. Chim ăn trứng cảm nhiễm, trứng vào ruột nở ra ấu trùng. ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành khoảng 18-21 ngày.

Tác hại

Trong quá trình ký sinh, giun chui đầu vào niêm mạc ruột gây tổn thương và viêm ruột do nhiễm khuẩn thứ phát.

2. Điều trị

Tẩy giun bằng piperazin adipinat: Liều dùng 0,3g/kg thể trọng; trộn với thức ăn hoặc cho uống trực tiếp.

3. Phòng bệnh

Thực hiện như phòng bệnh giun đũa, giun diều chim.

4- Bệnh cầu trùng:Thường bị chim dưới 4 tháng tuổi

Cách Trị Bệnh Cầu Trùng Ở Chim Bồ Câu 

Bệnh cầu trùng thường thấy ở bồ câu non từ 1 đến 4 tháng tuổi với các hội chứng ỉa lỏng, phân có nhiều dịch nhày và đôi khi có màu sô-cô-la do bị xuất huyết.

1. Nguyên nhân

Bệnh gây ra do một số bài cầu trùng thuộc giống Eimeria:

– Eimeria acervulina

– Eimeria tenella

– Eimeria preacox

– Eimeria mivatis…

Những lài cầu trùng này? cũng là tác nhân gây bện cầu trùng cho gà. Người ta cho rằng bồ câu bị lây nhiễm mầm bệnh từ gà.

2. Bệnh lý và lâm sàng

Cầu trùng ở dạng cảm nhiễm sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá của bồ câu qua thức ăn nước uống, sẽ phát triển và ký sinh ở niêm mạc ruột non và ruột già của bồ câu, gây ra ba tác hại:

– Chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho bồ câu gây yếu, giảm tăng trọng.

– Gây tổn thương niêm mạc ruột, làm tróc nhung mao ruột, dẫn đến viêm ruột do nhiễm khuẩn thứ phát do E. coli, Salmonella spp và các tạp khuẩn khác. Các trường hợp bệnh nặng bồ câu sẽ bị viêm ruột, xuất huyết.

– Độc tố của cầu trùng tiết ra trong quá trình ký sinh cũng tác động đến quá trình phát triển của bồ câu.

Bồ câu bị bệnh cầu trùng thể hiện các triệu chứng chủ yếu sau:

– ỉa phân lỏng, có nhiều dịch nhày.

– Đôi khi phân có máu do xuất huyết niêm mạc ruột

– Bồ câu bị bệnh nặng có thể chết do ỉa chảy và kiệt sức.

– Phần lớn bệnh cấu trùng ở bồ câu thể hiện các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn bệnh cầu trùng ở gà con khi cùng nhiễm các loài cầu trùng tương ứng.

– Bồ câu thường phát triển chậm và gầy yếu.

3. Dịch tễ học

Bệnh cầu trùng thường thấy ở bồ câu non và bồ câu choai. Tuy nhiên bồ câu trưởng thành cũng thấy mang mầm bệnh và thải mầm bệnh ra môi trường.

Các loài cầu trùng gây bệnh cho gà cũng đồng thời gây bệnh cho bồ câu. Các khu vực nuôi chung gà với bồ câu thì thường thấy bệnh cầu trùng của gà lây sang bồ câu.

Bệnh cầu trùng bồ câu thường thấy ở hai thời điểm trong năm: từ cuối xuân sang hè và từ mùa thu chuyển sang mùa đông. Tuy nhiên, bệnh xảy ra quanh năm ở các cơ sở có ô nhiễm mầm bệnh.

4. Chẩn đoán

– Kiểm tra phân tìm noãn nang của cầu trùng.

– Quan sát hình dạng của noãn nang cầu trùng; nuôi cấy noãn nang, theo dõi các giai đoạn phát triển và mổ khám bồ câu, xác định vị trí ký sinh của cầu trùng trong hệ thống tiêu hoá để định loại loài cầu trùng ký sinh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Dịch ngôn ngữ